Trao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa

Thoát khỏi tư duy bảo tồn tĩnh tại, di sản đang được tiếp thêm “nhịp đập mới” khi bước vào guồng quay công nghiệp văn hóa, vừa sinh giá trị kinh tế vừa nuôi dưỡng bền vững bản sắc và đời sống cộng đồng.

Khi di sản không còn là “không gian tĩnh”

Trong dòng chảy phát triển của đất nước bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra một điểm nhấn mang tính chiến lược lâu dài là văn hóa và con người không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực điều tiết sự phát triển xã hội bền vững.

Đây không đơn thuần là sự kế thừa quan điểm “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” mà là bước phát triển mới về tư duy, khi văn hóa được nhìn nhận như một trụ cột phát triển thực chất, gắn chặt với kinh tế, xã hội và chất lượng sống của người dân.

Trong tư duy đó, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản nổi lên như một điểm nhấn quan trọng, phản ánh quyết tâm đưa văn hóa trở thành động lực phát triển đất nước theo hướng bền vững.

Khác với cách tiếp cận truyền thống vốn thiên về “giữ gìn nguyên trạng”, kinh tế di sản mở ra một cách nhìn mới đó là bảo tồn không đồng nghĩa với đóng băng, mà là tạo điều kiện để di sản tiếp tục sống, tiếp tục sinh giá trị trong đời sống đương đại.

Trao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa- Ảnh 1.

Du khách tham quan Quần thể Danh thắng Tràng An – Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới.

Thực tế cho thấy, khi được phát triển đúng hướng, kinh tế di sản không chỉ khai thác hợp lý các giá trị văn hóa, mà còn tạo nguồn lực tái đầu tư cho công tác bảo tồn, hình thành một chu trình phát triển bền vững, trong đó bảo tồn là nền tảng cho phát triển, còn phát triển lại nuôi dưỡng và củng cố bảo tồn.

Quan trọng hơn, di sản khi được đặt trong mối quan hệ hài hòa với cộng đồng sẽ mang lại “lợi ích kép” là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, đồng thời khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc.

Tại Ninh Bình, tư duy kinh tế di sản đã được hiện thực hóa bằng những chuyển biến rõ nét. Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Bùi Văn Mạnh - Giám đốc Sở Du lịch Ninh Bình cho biết, địa phương đã từng bước chuyển từ bảo tồn thuần túy sang bảo tồn gắn với sáng tạo giá trị và phát triển dài hạn. Di sản không còn tồn tại như những “không gian tĩnh”, mà được chuyển hóa thành các sản phẩm du lịch đặc thù và những không gian sáng tạo sống động.

Theo ông Mạnh, Quần thể Danh thắng Tràng An – Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới vừa được bảo tồn nghiêm ngặt theo các chuẩn mực quốc tế, vừa đóng vai trò hạt nhân lan tỏa cho hệ sinh thái du lịch văn hóa, sinh thái và trải nghiệm. Tại đây, cảnh quan thiên nhiên, chiều sâu lịch sử, đời sống cộng đồng và các hoạt động sáng tạo đương đại được kết nối hài hòa, tạo nên bản sắc riêng có của du lịch Ninh Bình.

Trên nền tảng đó, nhiều không gian và sản phẩm du lịch mới đã hình thành, từ Phố cổ Hoa Lư với cách tiếp cận tái hiện không gian văn hóa – lịch sử cố đô, Phố Tây Tam Cốc và Đảo Khê Cốc gắn với cảnh quan nông nghiệp – sinh thái cho đến Bái Đính về đêm, mở ra chiều sâu mới cho du lịch tâm linh và văn hóa.

“Các sự kiện thường niên như Tuần Du lịch Ninh Bình “Sắc vàng Tam Cốc – Tràng An”, Festival Di sản, Lễ hội âm nhạc và sáng tạo Tràng An “Forestival” hay chuỗi hoạt động kinh tế ban đêm tại Tam Cốc, Phố cổ Hoa Lư đã góp phần tạo dựng những không gian thực cảnh, nơi câu chuyện di sản được kể lại bằng ngôn ngữ đương đại, gia tăng giá trị trải nghiệm và kéo dài vòng đời tiêu dùng du lịch.

Song hành với đó, hệ thống sản phẩm OCOP gắn với làng nghề, ẩm thực và tri thức bản địa ngày càng được chuẩn hóa, khẳng định rằng di sản không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà đã trở thành nguồn lực sáng tạo, sinh kế và động lực phát triển kinh tế bền vững”, ông Mạnh nói.

Trao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa- Ảnh 2.

Ông Bùi Văn Mạnh - Giám đốc Sở Du lịch Ninh Bình.

Một điểm nhấn xuyên suốt trong mô hình phát triển của Ninh Bình là việc đặt cư dân sống trong di sản vào vị trí trung tâm. Tỉnh kiên trì gìn giữ cảnh quan nông nghiệp, làng quê truyền thống và sinh kế bản địa, coi đây là bộ phận hữu cơ của di sản sống. Người dân vừa tham gia cung ứng dịch vụ du lịch, vừa trực tiếp trở thành chủ thể kể chuyện di sản từ người chèo đò, nghệ nhân đến hướng dẫn viên bản địa, qua đó chuyển vai trò từ thụ hưởng sang bảo tồn, khai thác và sáng tạo.

Cùng với bảo tồn cộng đồng, Ninh Bình đang mở rộng không gian sáng tạo dựa trên nền tảng di sản, gắn với chuyển đổi số và đổi mới quản trị điểm đến. Việc số hóa di tích, triển khai thuyết minh thông minh, quản lý theo thời gian thực không chỉ nâng cao trải nghiệm du khách mà còn mở ra dư địa mới cho các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế trải nghiệm phát triển.

Di sản Ninh Bình cũng ngày càng trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, nghệ thuật và sáng tạo đương đại. Việc Tràng An, Tam Cốc – Bích Động xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh quốc tế, tiêu biểu như bộ phim Hollywood Kong: Skull Island đã đưa hình ảnh Ninh Bình vươn ra toàn cầu. Tỉnh đồng thời chủ động hỗ trợ các đoàn làm phim, nghệ sĩ quốc tế, phát triển các sản phẩm âm nhạc, nhiếp ảnh, thời trang và lễ cưới cao cấp gắn với cảnh quan di sản, từng bước định vị Ninh Bình như một không gian sáng tạo mở.

Tuy nhiên, theo ông Bùi Văn Mạnh, phát triển kinh tế di sản nếu thiếu kiểm soát sẽ làm tổn hại chính những giá trị cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến. Vì vậy, ngành du lịch Ninh Bình kiên định quan điểm không đánh đổi di sản, môi trường và bản sắc văn hóa lấy tăng trưởng ngắn hạn; quản lý điểm đến dựa trên sức chịu tải của di sản và cộng đồng; coi người dân là trung tâm của bảo tồn và phát triển và xem quản trị di sản là một quá trình phát triển có giới hạn, có trách nhiệm.

Chính cách tiếp cận đó đã và đang giúp Ninh Bình từng bước chứng minh rằng, khi được đặt đúng vị trí, di sản không chỉ được gìn giữ cho mai sau, mà còn trở thành động lực phát triển kinh tế, văn hóa và con người, góp phần hiện thực hóa tinh thần của Đại hội XIV đó là phát triển đất nước bền vững từ sức mạnh nội sinh của văn hóa Việt Nam.

Bảo tồn di sản trong dòng chảy công nghiệp văn hóa

Từ thực tiễn Ninh Bình có thể thấy, khi di sản được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển, được trao “đời sống mới” thông qua sáng tạo, công nghệ và sự tham gia của cộng đồng, kinh tế di sản không còn là khái niệm lý thuyết mà đã trở thành động lực tăng trưởng rõ nét.

Mô hình đó cũng đặt ra những gợi mở quan trọng cho các đô thị lớn, nơi di sản không chỉ dày đặc về số lượng mà còn có chiều sâu lịch sử và sức lan tỏa mạnh mẽ. Trong bức tranh chung ấy, Hà Nội Thủ đô nghìn năm văn hiến đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển hóa kho tàng di sản đồ sộ của mình thành nền tảng cho phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.

Là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng di sản văn hóa, Hà Nội hiện sở hữu gần 6.000 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 16 di tích, cụm di tích quốc gia đặc biệt và gần 1.200 di tích được xếp hạng cấp quốc gia.

Đặc biệt, Khu Di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới, khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của Thủ đô trong dòng chảy lịch sử và văn hóa nhân loại.

Theo TS. Phạm Thị Lan Anh - Trưởng phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội), thời gian qua, Thành phố đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản, đồng thời từng bước biến di sản thành nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa. Đến nay, Hà Nội đã có 131 nghệ nhân trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể được Nhà nước công nhận.

“Nhiều nghề truyền thống gắn với đời sống đô thị và nông thôn Thủ đô như bún Phú Đô, phở Hà Nội, chả cá… được khôi phục, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc mà còn tạo ra giá trị kinh tế thiết thực.

Những tri thức ẩm thực như nghề nấu cỗ của Bát Tràng được vinh danh, tiếp nối thành công của nghề gốm truyền thống, qua đó đưa Bát Tràng trở thành một điểm sáng trong phát triển công nghiệp văn hóa gắn với di sản”, bà Lan Anh cho hay.

Trao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa- Ảnh 3.

Nhiều chương trình, sự kiện được kết nối và tổ chức tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long.

Thông tin thêm về lĩnh vực di tích, Trưởng phòng Quản lý di sản cho biết công tác tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị tiếp tục được Thành phố quan tâm triển khai một cách có trọng tâm, trọng điểm. Nhờ đó, Hà Nội hiện sở hữu một kho tàng di sản phong phú với hơn 6.400 di tích, 1.793 di sản văn hóa các loại, khoảng 1.300 làng nghề và gần 1.500 lễ hội truyền thống.

Đáng chú ý, 23 bảo tàng ngoài công lập đã được cấp phép hoạt động, góp phần làm phong phú hệ sinh thái bảo tàng và trở thành những điểm đến hấp dẫn đối với công chúng và du khách. Đây được xem là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của văn hóa Thủ đô và các ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai.

Trong quá trình khai thác di sản như một nguồn lực kinh tế, nhiều đơn vị đã mạnh dạn đổi mới cách làm, ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm văn hóa – du lịch mới. Một ví dụ tiêu biểu là Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi không gian di tích được chuyển hóa thành không gian sáng tạo, thu hút cộng đồng sáng tạo trẻ.

Bên cạnh các chương trình biểu diễn nghệ thuật, trung tâm còn mở rộng không gian văn hóa đọc, tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm tại khu vực hồ Văn, phát triển hệ thống gần 100 sản phẩm lưu niệm lấy cảm hứng từ hoa văn kiến trúc Văn Miếu, đồng thời triển khai tour đêm ứng dụng công nghệ trình chiếu 3D mapping, mang đến cách tiếp cận mới trong kể chuyện di sản.

Trao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa- Ảnh 4.

Trong tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, du khách có thể hóa thân thành học trò xưa trong hoạt động "Lớp học Thầy đồ", trải nghiệm viết thư pháp, học chữ Hán cổ dưới mái nhà tranh.

Theo ông Lê Xuân Kiêu - Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, để “làm sống dậy” di tích và tạo sinh khí mới cho điểm đến, điều cốt lõi là phải thay đổi nhận thức và tư duy tiếp cận. 

Việc đưa công nghệ vào di sản, nếu được sử dụng một cách hợp lý và có chiều sâu, không làm mất đi giá trị cốt lõi mà còn gia tăng sức hấp dẫn, giúp di sản kể được những câu chuyện giàu cảm xúc, đặc biệt là câu chuyện về đạo học và truyền thống hiếu học của dân tộc.

Ở góc độ quản lý nhà nước, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội đã chủ động nghiên cứu, tham mưu xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển văn hóa.

Đáng chú ý, Luật Thủ đô năm 2024 đã dành những quy định riêng cho lĩnh vực văn hóa, mở ra dư địa và điều kiện thuận lợi hơn cho công tác bảo tồn và phát huy di sản trong giai đoạn tới. 

Cùng với đó, UBND Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 294 về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn đến năm 2025 và các năm tiếp theo, hướng tới mục tiêu gìn giữ và phát huy các di sản, công trình tiêu biểu của Thủ đô, góp phần xây dựng văn hóa, con người Hà Nội vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Trên nền tảng đó, nhiều chính sách hỗ trợ nghệ nhân, câu lạc bộ và thế hệ kế cận trong công tác truyền dạy, tổ chức hoạt động và cuộc thi chuyên môn đã được triển khai, từng bước củng cố nền tảng nhân lực cho công nghiệp văn hóa Thủ đô trong dài hạn.

Tham khảo thêm
Tham khảo thêm
Hà Nội gia nhập “sân chơi” văn hóa toàn cầu bằng lễ hội quốc tế định kỳTrao “nhịp đập mới” cho di sản trong guồng quay công nghiệp văn hóa- Ảnh 6.